
Gốc (Jrai): 'Po tao nai ami, Po tao nao ama, H'dong nai h'dong kha, Bơ nai bơr miêng'
Dịch nghĩa (Chi tiết):
'Cây lúa của mẹ, cây lúa của cha, ruộng đồng là ruộng quý, cỏ cây là quà thiên nhiên.'
Câu ca dao này không chỉ ca ngợi công lao sinh thành của cha mẹ mà còn mở rộng Ý nghĩa sang sự trân trọng đất đai và lao động – những nguồn sống căn bản của người Jrai. Trong văn hóa Jrai, việc gắn lúa (nguồn sống) với cả cha và mẹ thể hiện sự tôn vinh công sức chung trong việc duy trì buôn làng. Nó là lời răn dạy về lòng biết ơn đối với cha mẹ, người lớn tuổi và tôn trọng thiên nhiên như một nguồn sống thần thánh (Yang).

Gốc (Jrai): 'Kơ sih dia kơ sih, kơ pơ tao diă kơ pơ tao'
Dịch nghĩa (Chi tiết): 'Con chim theo tiếng hót, con người theo tiếng gọi mẹ cha.'
Bài ca dao sử dụng phép so sánh ngụ ngôn tự nhiên (con chim theo bản năng) để làm nổi bật nguyên tắc hiếu đạo của con người. Nó khẳng định rằng việc nghe lời và tuân thủ lời dạy của cha mẹ không chỉ là hành động ngoan ngoãn mà còn là một đạo lý tự nhiên và là thước đo phẩm chất của người con. Đây là một nguyên tắc quan trọng nhằm duy trì trật tự, kỷ luật trong gia đình và đảm bảo sự tiếp nối các luật tục truyền thống.

Gốc (Jrai):
Dăm Brěnh dõ rơđông
Dăm Brông dõ rơhiơi
Sĩ ta ngà bơyô khơm đang
Sĩt ngà pojang khơm wai
Sĩt ta ngà kơi nai khơm dõ
Ơi, ơi dăm Brông ơi
Jik rõ rang anăn podar
Hla o rang anăn tongan kơi
Sơi rang anăn boh nũ
Potu rang anăn yă Pôm
Krôm sang rang anăn ia dơnao
Bao mo rang anăn kuih ol
Ngol so rang pioh ngă ga
Ơi dăm Brông, ơi dăm Brěng Ba nao mò kâo nao yâo
Hơmâo grang chăr mò yâo ti klung
Hơmo grang ung mò yâo tai gah
Ơi ơi, dăm Brông ơ
Hơmâo hơmăi hagrơi ană choh mổ kâo git dônh
Hơmâo hơmăi hagrơi ană nôn, mõ kâo git mă
Mõ wěk nao kan chă mang
Mò wěk nao kan glong ku ơi Brông ơi, ơi, ơi Brěnh ơi.
Dịch nghĩa:
Dăm Brẽnh dõ rơđông
Dăm Brông dõ rơhiơi
Đã là tình yêu thì phải trong sáng
Phải giữ lấy tình cảm cho trọn vẹn
Đôi ta mãi mãi là vợ chồng
Ơi Brông ơi
Con cóc người ta sai khiến
Lá lồ ô người ta gọi là tay chồng
Hột cơm người ta gọi là trứng gà
Ngôi sao người ta gọi là yă Pôm
Gầm sàn người ta gọi là cái hồ
Trâu bò người ta gọi là chuột nhắt
Làng cũ người ta đã để làm vườn
Ơi dăm Brènh
Ơi dăm Brông
Dẫn em đi bắt cá
Rổ dày em xúc chỗ sâu
Rổ thưa em chao sát bờ
Ơi, dăm Brông ơi!
Chỉ một con cá nhỏ
Em không muốn nhặt nhạnh
Chỉ một con cá bống
Em không buồn bắt lấy
Em muốn bắt con cá có vây
Em thích cầm con cá duôi dài
Ơi Brông ơi, ơi, ơi Brěnh ơi
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Bài ca dao dài (Dăm Brông) vừa thể hiện tình cảm vợ chồng trong sáng, trọn vẹn, vừa lồng ghép sự phê phán những giá trị phi thực tế (như cá có vây, đuôi dài), đề cao sự cần cù lao động và chung thủy.

Gốc (Jrai):
Hrơi anai plơi ta nhu kâm yang ia
Gla (kla) plơi ta kâm yang rông
Dăm chông nao mo bě hla
Dăm ba nao mò char juh
Kruh pơ ia ta jâu djăi tui potâu
Jâu djăi tui rơ cham
Ta mram mão ha grơi nă tong
Yong di nă anăn kruh hrơi klăm bơlăm mờt
Hrung hrăng arang glai posang
Sang ano klăm anai ta ƀỡng bih ta
Gla ta bòng get mâo...
Dịch nghĩa:
Hôm nay làng ta cúng yang nước
Mai làng ta cúng yang nhà rông
Anh dắt em hái lá
Anh dắt em chặt củi
Đến suối ta cùng xúc cá
Tại nơi lùm cây, nơi hốc đá
Được một con cá tí ti
Thêm một con nhỏ nữa
Mà trời đã chiều rồi
Dân làng ta về hết
Tối nay tà ăn chung
Vài con cá nhỏ này
Ngày mai chẳng còn gì"...
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Bài ca dao mô tả rõ sinh hoạt tôn giáo và lao động của buôn làng (cúng Yang nước, cúng Yang nhà rông), thể hiện tinh thần đoàn kết, chia sẻ thành quả lao động dù ít ỏi

Gốc (Jrai):
Nao ayong, anam nao
Ƀôn Lao arang dỗ dong
Ƀôn sô Ama Djơng blah prong
Ayong anam hưp sum brão
Anam hưp ao jak
Anam hưp prak noa arang grong
Nao ayong anam nao
Ană ayong hia por klang
Arang dah atoa
Ană lai iâo ama bě
Glăi bě ayong glăi tanh
Tanh ayong tanh tanh, ană dồ chang...
Dịch nghĩa: Đừng đi, anh đừng đi
Làng Lào có người giữ
Buôn Ama Djơng có đánh lớn
Đừng ham, anh đừng ham quần mới
Đừng ham, anh đừng ham áo đẹp
Đừng ham, anh đừng ham giàu sang
Hứa suông, người ta chỉ hứa suông
Đừng đi, anh đừng đi
Con khóc không diều thả
Con buồn chẳng dụ chơi
Con đòi mẹ kêu cha
Về anh, về nhanh, con chúng ta đang chờ...
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Thể hiện lời van xin và cảnh báo người chồng/người yêu đừng ham danh lợi (quần mới, giàu sang) bên ngoài, nhấn mạnh trách nhiệm với gia đình và con cái.

Gốc (Jrai):
Ô tang ayong tang tak duk
Tang rang iâo ayong tang éh lăng mă nhen
Ih met lăng reo kâo hodjong
Met lăng hrong kâo klăc
Brua brơi kâo mă hiam
Ih pogit kă kâo
Ih bu kiăng kơkâo
Duk tang tak duk
Mă brơi kâo sagrơi mo
Poto brơi kâo sagrơi bâo
Ta klaih satăng hỡt
Tơdah kâo ih thâo chěng
Kão kiăng ih thâo chěng glăi posang
Kão, ih git đih hrơm kão
Kão lăng tui ih ƀu đăm
Kâo khăm tui ih ƀu tơl
Kâo hiơr tui ih buch buch
Těnh ayong, ta těnh těnh.
Dịch nghĩa:
Nay anh...
Tịch tình tang...
Người ta gọi tên anh
Tịch tình tang...
Anh hãy nhìn cho kĩ
Hãy đưa tôi cái gùi xinh xắn
Lấy cho tôi cái gùi đẹp đẽ
Đối xử với tôi cho tốt nhé
Cho dù anh không thích
Anh chẳng cần có tôi
Tịch tình tang...
Hãy dắt cho tôi một con bò
Hãy bắt đưa tôi một con trâu
Ta bỏ nhau thuốc chỉ một điếu
Anh không thích nhớ về tôi
Nhưng tôi muốn anh phải nghĩ đến nhà
Anh không muốn ngủ cùng tôi
Tôi nhìn theo anh đã không nổi
Tôi ngó theo anh đã không tới
Tôi nghĩ đến anh đã thật xa xôi
Nào nhanh lên, nhanh lên anh ơi.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Bài hát là lời nhắn gửi chan chứa yêu thương, xen lẫn nỗi buồn và khắc khoải. Người phụ nữ bộc lộ tình cảm chân thành dành cho người đàn ông – vừa trách, vừa nhắc nhở, vừa mong anh vẫn giữ lòng hướng về mái nhà, về tình nghĩa đã vun đắp.

Gốc (Jrai):
Pap đơi yơ dơi
Kâo dỗ pap đơi yơ
Ning đơi yơ dơi kâo hơ ning đơi yơ
Pă ani yơ dơi ong nao pă ani yơ
Hia ani yơ dơi ană ta hia ami yơ dơi vit bě.
Dịch nghĩa:
Thương em lắm, tôi thương em lắm
Mong đêm ngày em hãy về đi
Em đâu rồi, đi đâu hỡi em
Con đang khóc, em hãy về đi.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Thể hiện sự thương nhớ và mong mỏi người vợ/người yêu trở về, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người mẹ đối với con cái ('Con đang khóc').

Gốc (Jrai):
Boyan jah roh ană ta ka thâo rơvai
Boyan juk podai ană ta ka thâo rôi
Boyan bơnga plôi an ta ka thâo ngơr
Bơyan boh kơtơr ană ta ka thâo bat
Truh kar anai ană ta prong
Thâo tui ami nao hma
Thâo tui ama nao lo.
Dịch nghĩa:
Mùa phát rẫy con chúng ta chưa biết nói
Mùa tỉa lúa con chúng ta chưa biết bò
Mùa hoa bí con chúng ta chưa biết đùa
Mùa bẻ bắp con chúng ta chưa biết đi
Bây giờ con đã lớn
Biết theo mẹ lên rẫy
Biết theo cha đi săn.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Mô tả quá trình trưởng thành của con cái, gắn liền với chu kỳ mùa vụ và hoạt động sinh kế truyền thống. Khẳng định vai trò giáo dục bằng cách truyền dạy nghề nghiệp từ cha mẹ.

Gốc (Jrai):
Ami pô pla
Ama pô ƀa
Ơi yă pô pojing
Pô gleh bà bem
Pô gleh chem rong
Ling ia bu blai
Djuai ania bu vor-Sor hơđặp dõ thâo
Kơ yâo ta pla
Ama ta bruă
Hơnă hnăn dõ hơdơr
Sor ta ta chăng.
[cite: 181, 182, 183]
Dịch nghĩa:
Mẹ sinh ta ra
Cha người nuôi dưỡng
Ông bà gây dựng
Người nào cũng khổ cực
Ai nấy đều mệt nhọc
Rót nước không tràn
Họ hàng không quên
Rẫy cũ còn nhớ
Cây xanh ta trồng
Tay cha làm lụng
Của cải ông cha làm ra ta nhớ
Rãy cũ thành rừng ta vẫn không quên.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Đề cao công ơn sinh thành, dưỡng dục và gây dựng của cha mẹ, ông bà. Thể hiện sự tôn trọng truyền thống và ghi nhớ cội nguồn (cả rẫy cũ)

Gốc (Jrai):
Yă khắp roai:
Ami pô pla
Ama pô bă
Ơi yă pojing
Hơning đơi ami!
Popi drơi ami motah
Hodah ka biă
Pơđia bơi rong
Thong bơi tongan
Chogan nao glai
Hơtai pran hưp nao pơ hơma
Mong moai truk kơ tha
Ha yak hodum vot
Got pap ami hodum anun
Thun ia blai chrôh rô
Rongot ami hodum anun
Rok ƀơi hơma hodum pă
Ană rongot hodum anun
Phun podai hơdum pă
Ană hơning ih tui anun
Podai lom tung hơdum anun
Ană hơning ih hodum anun
Chríh rơnôh rô nanao
Pơđao hlơi jữ đăm
Ană klao hodor ami hodum anun.
Dịch nghĩa:
Bà nội thường kể
Cha là người trồng cây
Mẹ là người vun xới
Ông như gốc cây cổ thụ
Con thương mẹ
Suốt đời mẹ khổ
Suốt đời như tảng đá đè lên đầu
Trời ngủ, tối mịt mùng
Bình minh chưa dậy
Lưng nóng như trưa hè
Rựa lắc lư trong gùi
Con khóc nức nở trên lưng
Mẹ hăm hở băng qua rừng
Mừng lên rãy
Mẹ ơi!
Từ nhỏ đến già
Mẹ đi bao nhiêu bước
Con thương mẹ bấy nhiêu
Sông tràn, suối chảy mấy lần
Con quý mẹ ngần ấy
Trên rẫy, cỏ lên bao nhiêu
Con nhớ mẹ chừng ấy
Chòi chứa bao nhiêu hạt lúa
Con thương mẹ bằng ấy
Suối chảy triền miên
Chẳng ai đếm nổi
Công ơn mẹ từng ấy.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Sử dụng hình ảnh lao động cực nhọc trên rẫy để tôn vinh tình mẫu tử và công lao to lớn của người mẹ. Công ơn được ví với những hình ảnh thiên nhiên vĩ đại (sông tràn, suối chảy).