Ca dao về kinh nghiệm sống

Ca dao về kinh nghiệm sống

Triết lý biết ơn nguồn sống

Triết lý biết ơn nguồn sống

Yang cho ho khơn (Ruộng cho lúa)

Gốc (Jrai): 'yang cho ho khơn, cho khơn cho pian'

Dịch nghĩa (Chi tiết): 'Ruộng cho lúa, lúa cho người.' (Chi tiết: Ruộng (ho) cho lúa (khơn), Lúa (khơn) cho Người (pian))

Ý nghĩa:

Bài ca dao thể hiện rõ ràng chuỗi tương sinh trong đời sống Jrai: Thần linh (Yang) / Đất đai → Lúa → Con người. Nó là lời nhắc nhở mạnh mẽ về việc tôn trọng hạt cơm, những miếng ăn manh áo, không nên hoang phí. Triết lý này còn vượt ra khỏi phạm vi vật chất, nhắc nhở con người phải sống khiêm nhường và biết ơn tất cả các mắt xích đã nuôi dưỡng sự sống.

Tục ngữ về cần cù và lao động

Tục ngữ về cần cù và lao động

Dleh Ngă hmă hmão pơdai (Tinh thần Cần cù)

Gốc (Jrai): 'Dleh Ngă hmă hmão pơdai. Dleh hiu dlai Kah hmâo hlâ. Dleh hiu mớdrô Kah hmào ngan. Dleh tơgan ngã Kah hmão băng. Dleh rơKông phat phai Kah posir Kơ đi.'

Dịch nghĩa (Chi tiết): 'Siêng làm rẫy mới có lúa. Siêng đi săn mới có thú. Siêng làm ăn mới có của. Mỏi tay làm mới có. Khô cổ bàn mới xong việc.'

Ý nghĩa:

Đây là một chuỗi tục ngữ nhấn mạnh vào tinh thần tự lực cánh sinh và giá trị của sự cần cù trong mọi mặt của đời sống Jrai. Cấu trúc lặp đi lặp lại 'Siêng... mới có...' là một kỹ thuật giáo dục mạnh mẽ, khẳng định rằng thành quả phải đi đôi với mồ hôi, công sức. Nó bao trùm cả hoạt động sản xuất (làm rẫy, đi săn) và hoạt động xã hội (bàn bạc, giao tiếp), đề cao người biết hành động và kiên trì.

Lên án Thói ích kỉ và Nghiện rượu

Lên án Thói ích kỉ và Nghiện rượu

MƠNUIH NHỮM PAI BU THÂO GLÁI POSANG (ÍCH KỈ)

Gốc (Jrai): Rohich bỡt kang
Rohang bỡt bơr
Hiơr moa pơdai
Nhũm nanao pai
Ngui nanao chuă
Rawuă cheng glăi pơ sang

Ngă mơnuih hơnơng hơnua
Ngă nua pơdai
Ngui plơi pla
Thâu chěng glăi ană ha biă
Djiă glăi brơi bơnai ha biă

Kênh ha rơbuh kă pai
Kênh ha djai kă đing
Răm yua pai
Djai yua đing

Ană ha iâo tơl ala
Ană ha hia tơl anũn
Hlơi duah brơi djuh ha
Hlơi duah brơi ia djăn ha

Mơnuih nhũm pai bu thâo chěng glăi pơ sang
Ha ně đăm bỡng wih rõng
Đăm ngă amung chũt ta
Pơ krůn rõng
Đăm ngă ană tóng choh ia
Kan pa chur hlũ
Brũ đom sơi
Togrơi đom gjăm
Chěng yơh ana.

Dịch nghĩa: Mặt mũi bừng đỏ
Cứ ngồi tỉnh bơ
Rẫy lúa không nhớ
Cứ uống mãi rượu
Chẳng nghĩ đến nhà

Phải làm một người tốt
Phải biết làm lúa rẫy
Phải vui với dân làng
Phải nhớ con mày đang khóc
Biết mang gì về cho vợ

Rồi mày sẽ gục bên rượu
Rồi mày sẽ ngã với cần
Rồi mày sẽ chết vì ghè

Con mày đến gọi đây này
Con mày nó tới tận nơi
Ai bổ củi giúp cho mày?
Ai cóm nước thay cho mày?
Đứa say không biết đường về

Mày ăn đừng quay lưng
Đừng như con cọp chột mắt
Đừng giống con chồn lửng lơ
Đừng như con cá thèm mồi
Đừng như ba ba lẩn bùn
Như bụi bám cơm
Như thịt dính răng

Ôi chao, thật nhớ thương.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)

Ý nghĩa:

Đây là lời răn dạy trực diện, lên án thói nghiện rượu và ích kỷ Nhấn mạnh trách nhiệm với gia đình (củi, nước) và yêu cầu trở thành 'người tốt', gắn bó với buôn làng

Tội nghiệp và lời kêu gọi

Tội nghiệp và lời kêu gọi

AMĨ LUI ANĂ (NGƯỜI MẸ BỎ CON)

Gốc (Jrai): Ană ta dõ anet kă bu thâo ngui
Ană ta kă ou lui măm
Rõng ba ană ta nê...

Ană ta dò chùt chu
Ană ta nê kă bu thâo ngui
Ană ta kă bu thâo dơng đỡng
Ană ta ta kă bu thâo lăng pui m./a
Ană ta kă bu thâo dui băn
Ană ta kă bu thâo iâo ama
Ană ta kă bu thâo hia ami
Ană ta dõ hũi mơng tuai

Rõng ba ană ta anai...

Dịch nghĩa: NGƯỜI MẸ BỎ CON
Con chúng ta còn bé chưa biết đi chơi
Con chúng ta còn nhỏ chưa bỏ được bú
Hãy nuôi con chúng ta đi thôi...

Con chúng ta nó đang cố lớn
Con chúng ta chưa biết đùa chơi
Con chúng ta chưa biết đứng ngồi
Con chúng ta chưa biết nhìn lửa
Con chúng ta chưa biết mặc đồ
Con chúng ta chưa biết gọi bố
Con chúng ta chưa biết đòi mẹ
Con chúng ta còn sợ người lạ
Này đây, hãy nuôi con chúng ta...
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)

Ý nghĩa:

Mô tả sự thương xót dành cho đứa trẻ còn quá bé bỏng (chưa biết bú, chưa biết gọi cha mẹ) và là lời kêu gọi cộng đồng, người thân chăm sóc đứa trẻ bị bỏ rơi.

Cảnh báo về Cuộc sống Lính tráng

Cảnh báo về Cuộc sống Lính tráng

DĂM ƠI (CON ƠI)

Gốc (Jrai): Toring plơi Klah
Tonah plơi Blang
Tui hang ia Nhin
Toring plơi Bâu
Tobrôt hăn tuang
Tui glan Kon Tum
Tohơnüm linh gak
Tơ bok linh wai

Dăm ơi
Rõ ană bonai tui klon
Tongan juăt mă
Kă juắt nham

Bĩ hơmâo bong bui
Djai, todah dăm djai bĩ hơmâo chêng tong
Bĩ hơmào nù teh tui
Bĩ hơmâo bui dan
Bĩ hơmâo nhan klờp
Bĩ hơmâo tơ hơnỡp sâm
Djai todah ih djai.

Dịch nghĩa: CON ƠI
Nơi ấy làng Klah
Đất ấy làng Blang
Bên bờ suối la Nhin
Đằng kia là làng Bâu

Quân hàm trên hai vai
Đứng dọc đường Kon Tum
Làm đứa lính đứng gác
Làm đứa lính bảo vệ

Con ơi
Vợ con chẳng theo sau
Như đôi tay quen làm
Như cái gùi nứa đan

Nếu mà con chết đi
Không có người đánh chiêng
Không có cái hòm chôn
Không có con gà thui
Không có con lợn cúng
Không cái chén đội đầu
Không cả mảnh vải trùm

Nếu mà con chết đi...
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)

Ý nghĩa:

Đây là lời than vãn, cảnh báo về sự hiểm nguy và thiếu thốn của cuộc sống lính tráng. Đặc biệt, nhấn mạnh nỗi sợ hãi lớn nhất: chết mà không được làm nghi thức mai táng truyền thống (đánh chiêng, gà cúng, vải trùm).

Đề cao Sự trong sáng và Chung thủy

 Đề cao Sự trong sáng và Chung thủy

IH PƠDỜP GLĂI PÔ IH (CHUNG THỦY)

Gốc (Jrai): Tơl thùn anai kâo bu rai chuă
Rowuă kâo bu lăng tơl thùn anai kâo kiăng rai ep
Rongot jăh laih

Kâo ră brơi ih nê
Bôh sum maih ih đăm weh
Met mă dịă djong, dah ih bu lăng kong bing mơi
mơ ak

Guah đơm brơi
Hrơi đơm dih
Kâo doh mong anò ha
Păng pih păng

Kâo kiăng tui rai bing mơi nê
Wor yoh ih nê rongot yơh
Ih bôh bơnai dua
Ih đoa bơnai klâo bơyâo bĩ bôh chiah
Kâo su pỗ yỗ tui to
Kâo su pỗ ngõ bu bôh
Ih pomin glăi po sang
Đăm poang hrom gớp
Ih pơdỡp glăi pô ih.

Dịch nghĩa: CHUNG THỦY
Đã lâu tôi chưa thăm
Nhìn quanh thật trống trải
Năm nay muốn thăm lại
Nghĩ sao mà nhớ thương

Muốn nói với anh điều này
Thấy bạc vàng hãy lánh đi ngay
Phải giữ cho lòng mình trong sáng
Nếu anh không thấy vòng, chúng tôi đây rất mừng

Sáng hôm qua rồi ngày hôm kia
Tôi muốn đến hát nơi anh ở
Lúc cửa nhà anh vừa mở
Tôi muốn đến đấy
Nhưng chúng tôi đã chẳng thấy anh
Thương nhớ thật là nhiều

Anh đã có vợ hai
Anh muốn lấy vợ ba
Càng không nhìn thấy anh
Tìm anh phía Tây không ra
Kiếm phương Nam chẳng thấy
Anh phải biết nghĩ về anh
Đừng khoe khoang này nọ
Anh phải giấu mình đi thôi.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)

Ý nghĩa:

Khuyến khích giữ lòng trong sáng, chung thủy, tránh xa cám dỗ vật chất ('bạc vàng'). Lên án việc lấy nhiều vợ (vợ hai, vợ ba), đề cao sự tự trọng.

Lời động viên và Hứa hẹn

 Lời động viên và Hứa hẹn

ADƠI ADÔH MOẮK (EM HÁT HAY)

Gốc (Jrai): Tơpai mơnhum lu
Bu mâo pô ôh mat
Adơi wot ayong
Anong wot neh
Pocheh lu tolơi adôh

Adoi adôh mơak
Rak djop tơhnal
Yal lu pô hmữ
Brư brư djop akỗ hodor
Tơchô ngui ngor at pơ dơi mơn.

Dịch nghĩa: Uống rượu nhiều
Không người say
Anh cùng em
Cậu cùng cô
Nghĩ nhiều điệu

Em hát hay
Luyện lắm giọng
Cho mọi người nghe
Mọi người dần thuộc
Từ già đến trẻ
Tiếng hát đều hay.
(Trích: Nguyễn Quang Tuệ (2006), Dân ca Gia Rai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)

Ý nghĩa:

Đây là lời động viên, cổ vũ tinh thần người yêu/người vợ trong mọi hoàn cảnh. Ca dao sử dụng hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt (mưa to, đường xa) để ẩn dụ cho những khó khăn trong cuộc sống, nhưng vẫn cần giữ thái độ lạc quan, vui vẻ.